Chuyên ngành Đào tạo
[21/5/2019]

 

XÂY DỰNG QUI TRÌNH ĐỊNH LƯỢNG ĐỒNG THỜI VALSARTAN VÀ NIFEDIPIN

TRONG HUYẾT TƯƠNG NGƯỜI BẰNG KỸ THUẬT LC-MS/MS

 

Cao Thị Thu Giang, Đỗ Châu Minh Vĩnh Thọ, Nguyễn Đức Tuấn*

 

Từ khóa: valsartan, nifedipin, huyết tương người, kỹ thuật LC – MS/MS.

Mở đầu: Tăng huyết áp là một trong các yếu tố nguy cơ chính gây nên bệnh tim mạch nhưng tỷ lệ bệnh nhân đạt được huyết áp mục tiêu sau một thời gian điều trị còn rất thấp. Vì vậy, các phác đồ điều trị tăng huyết áp hiện nay khuyến cáo tăng liều hoặc phối hợp thuốc ngay từ giai đoạn sớm của bệnh để đạt hiệu quả điều trị. Trong đó, việc phối hợp valsartan liều 80 mg và nifedipin liều 30 mg cho hiệu quả kiểm soát tốt huyết áp đã được chứng minh lâm sàng. Tuy nhiên, trên thế giới chỉ có một số ít công trình nghiên cứu định lượng đồng thời hai hoạt chất này trong huyết tương người, đặc biệt tại Việt Nam vẫn chưa có công trình nào được thực hiện.  Từ nhu cầu thực tế trên, đề tài được thực hiện với mục tiêu xây dựng và thẩm định qui trình định lượng đồng thời valsartan và nifedipin trong huyết tương người bằng kỹ thuật LC-MS/MS theo hướng dẫn của US-FDA và EMA với các chỉ tiêu.

Đối tượng & Phương pháp nghiên cứu

Qui trình định lượng đồng thời valsartan và nifedipin trong huyết tương người được thực hiện trên hệ thống ACQUITY UPLC H-CLASS SYSTEM (Waters) ghép đầu dò khối phổ Xevo TQD (Waters) với bộ phận ion hóa phun điện tử. Mẫu huyết tương được xử lý bằng phương pháp kết tủa protein với acetonitril và acid formic 0,045%. Valsartan, nifedipin và nội chuẩn losartan được tách trên cột sắc ký pha đảo, sử dụng hệ pha động là acetonitril và acid formic 0,015%. Qui trình định lượng được thẩm định theo hướng dẫn của US-FDA và EMA với các chỉ tiêu: tính phù hợp hệ thống, tính đặc hiệu, tỷ lệ thu hồi/hiệu suất chiết, đường chuẩn và khoảng tuyến tính, độ đúng và độ chính xác, giới hạn định lượng dưới, độ ổn định của mẫu thử và mẫu chuẩn, ảnh hưởng của nền mẫu và chất mang.

Kết quả: Valsartan (VAL), nifedipin (NIF) và nội chuẩn losartan (LOR) được ion hóa ở chế độ ion hóa dương với kỹ thuật ghi phổ MRM cho ra các mảnh mẹ và mảnh con dùng cho định lượng tương ứng như sau: m/z 436,15 g 235,05, m/z 349,03 g 315,03 và m/z 423,16 g 207,04. Tỷ lệ huyết tương - acetonitril và acid formic 0,045% để kết tủa hoàn toàn protein là 1:3. Điều kiện sắc ký bao gồm cột Thermo C18 AcclaimTM 1 (250 mm x 4 mm; 5 µm), pha động là hỗn hợp acetonitril – acid formic 0,015% (65:35,tt/tt), tốc độ dòng 1 ml/phút. Miền giá trị của valsartan và nifedipin lần lượt là 20,0 – 6000,0 ng/ml và 0,25 – 75 ng/ml với hệ số tương quan bình phương là 0,9989 và 0,9992 (đều lớn hơn 0,95). Giới hạn định lượng dưới của valsartan và nifedipin lần lượt là 20,0 ng/ml và 0,25 ng/ml. Kết quả chỉ tiêu tính đặc hiệu cho thấy trên sắc ký đồ mẫu huyết tương trắng tại thời điểm tương đương với thời gian lưu của LOR, VAL, NIF trong mẫu huyết tương tự tạo không xuất hiện các pic đặc trưng cho những chất này. Qui trình xử lý mẫu đã xây dựng cho tỷ lệ thu hồi cao từ 95% đến 106% và ổn định (RSD < 4%) ở cả 3 mức nồng độ LQC, MQC, HQC của các chất phân tích. Kết quả thẩm định độ đúng và độ chính xác trong ngày và khác ngày của phương pháp phân tích với tỷ lệ thu hồi của VAL và NIF ở cả ba mức nồng độ LQC, MQC và HQC lần lượt dao động trong khoảng 87,6%-97,6% và 94,44%-106,34% (qui định từ 85% đến 115%) với giá trị RSD lần lượt dao động trong khoảng 1,72%-3,30% và 1,91%-5,88% (qui định RSD < 15%). Kết quả khảo sát độ ổn định của hoạt chất trong huyết tương cho thấy nghiên cứu đều đạt tất cả các yêu cầu về độ ổn định sau bảo quản ở nhiệt độ phòng trong thời gian ngắn (6 giờ), độ ổn định của mẫu sau xử lý (24 giờ trong bộ phận tiêm mẫu sắc ký, 20 0C), độ ổn định sau 3 chu kỳ đông – rã đông, độ ổn định dài hạn (20 ngày ở -20 0C). Tỷ số MFVAL/ MFIS và tỷ số MFNIF/ MFIS ở hai mức nồng độ LQC và HQC có giá trị RSD lần lượt là 11,82% và 4,25%; 5,71% và 4,73% (qui định nhỏ hơn 15%). Do đó, phương pháp phân tích không bị ảnh hưởng bởi nền mẫu và chất mang, đáp ứng yêu cầu của một phương pháp phân tích thuốc trong dịch sinh học.

 

Hình 1. Sắc ký đồ dung dịch VAL và NIF và LOR ở điều kiện khối phổ và sắc ký thích hợp

Kết luận: Đề tài đã xây dựng và thẩm định thành công qui trình định lượng đồng thời valsartan và nifedipin trong huyết tương người bằng phương pháp LC–MS/MS với độ nhạy, độ đặc hiệu và độ chính xác cao. Do đó, qui trình có thể được ứng dụng để theo dõi nồng độ hai thuốc này trong huyết tương trong các nghiên cứu sinh khả dụng và tương đương sinh học.

 

Tài liệu tham khảo

1.   Nguyễn Kim Phi Phụng (2004), Khối phổ lý thuyết – bài tập – bài giải, Nhà xuất bản Đại học quốc gia TP Hồ Chí Minh, TP Hồ Chí Minh, tr. 32 – 56.

2.   Oskar Gonzalez, Rosa Maria Alonso, Nerea Ferreirós,  Wolfgang Weinmann, Ralf Zimmermann, Sebastian Dresen (2011), “Development of an LC–MS/MS method for the quantitation of 55 compounds prescribed in combined cardiovascular therapy”, Journal of Chromatography B, 879, 243–252.

3.   US Department of Health and Human services, Food and Drug Administration, Centre for Drug Evaluation and Research (2001), Guidance for industry, Bioanalytical Method Validation, htttp://www.fda.gov. Ngày truy cập: 20/08/2017

Ths.Cao Thị Thu Giang

Khoa Dược

Các tin khác

Bản in  

Gửi bạn bè  Lên đầu trang     Trở về
 

Ngành Dược

Ngành Điều dưỡng

Các Thể loại tin tức khác
 
ĐĂNG NHẬP NHANH
  Liên Kết